Ứng dụng hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán giải phẫu bệnh

Thứ năm - 22/09/2011 08:34
Trong những năm gần đây hóa mô miễn dịch được sử dụng trong các phòng xét nghiệm giải phẫu bệnh như là một phương pháp nhuộm đặc biệt để giúp chẩn đoán phân biệt bệnh và xác định tác nhân gây nhiễm khuẩn. Kỹ thuật này cho phép quan sát được sự hiện diện của kháng nguyên trên lát cắt mô. Như vậy các nhà bệnh học có thể quan sát và đánh giá được cả hai phương diện hình thái học và phenotyp miễn dịch trên mô hay tế bào. Kỹ thuật này có thể được thực hiện trên khối nến và quan sát dưới kính hiển vi quang học, không cần phải dùng mẫu mô tươi cũng như kính hiển vi huỳnh quang.
Ứng dụng hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán giải phẫu bệnh

HÓA MÔ MIỄN DỊCH LÀ GÌ?

Hóa mô miễn dịch là kết hợp phản ứng miễn dịch và hoá chất để làm hiện rõ các kháng nguyên (KN) hiện diện trong mô (bào tương, màng tế bào, nhân). Vì kháng nguyên không thể quan sát hình thái được nên người ta phải xác định vị trí của nó trên tế bào bằng các phản ứng miễn dịch và hóa học. Có hai kỹ thuật: miễn dịch huỳnh quang và miễn dịch men.
Nguyên tắc: Cho kháng thể (KT) đặc hiệu lên mô, nếu trong mô có kháng nguyên sẽ có phản ứng kết hợp KN - KT. Có 2 cách để quan sát được phức hợp này:
Miễn dịch huỳnh quang: cho gắn với một chất phát huỳnh quang và quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang.
Miễn dịch men: Cho gắn với một loại men (peroxidase hoặc alkaline phosphatase) và gắn với chất màu (chromogen), có thể quan sát dưới kính hiển vi quang học.

KHÁNG NGUYÊN LÀ GÌ?

Kháng nguyên (KN) thường là các protein, một số khác là carbohydrate. Kháng thể phản ứng với một phần (kháng thể đơn dòng) hay nhiều phần (kháng thể đa dòng) của kháng nguyên được gọi là "vị trí tiếp xúc" (epitope). Một KN thường có nhiều vị trí tiếp xúc tiềm tàng, do đó cần được bộc lộ trước khi cho tiếp xúc với kháng thể. KN gồm nhiều loại:
- các sợi trung gian (intermediate filaments): keratin, vimentin, desmin, neurofilament, glial fibrillarry acidic protein
- thụ thể hormon (hormon receptor): thụ thể transferin, estrogen, progesteron, androgen...
- kháng nguyên ung thư phôi (oncofetal antigen):
- các sản phẩm gen (gene products): Her-2/neu, ras, bcl-2, Rb, p53....
- ...

KHÁNG THỂ LÀ GÌ?

Phần lớn kháng thể được dùng là IgG, kế đến là IgM. Kháng thể tiếp xúc với kháng nguyên được gọi là kháng thể thứ nhất. Tùy theo cách sản xuất có 2 loại kháng thể: đa dòng và đơn dòng
Kháng thể đa dòng: được sản xuất bằng cách gây miễn dịch ở động vật với kháng nguyên đặc hiệu. Ðộng vật đáp ứng miễn dịch và tạo ra kháng huyết thanh bao gồm nhiều loại kháng thể đặc hiệu và không đặc hiệu. Sau đó các kháng thể ngoài ý muốn được loại bỏ. Kháng thể đa dòng dễ sản xuất và nhạy hơn so với kháng thể đơn dòng. Tuy nhiên cũng có những bất lợi sau: (1) Ngay cả sau khi đã làm tinh khiết KT đa dòng có thể chứa các kháng thể phản ứng không đặc hiệu với các KN (2) có khuynh hướng nhuộm nền cao.
Kháng thể đơn dòng: được sản xuất bằng kỹ thuật u lai. Phương pháp này phối hợp khả năng tạo kháng thể đặc hiệu từ tương bào với lymphô bào B ở lách động vật được gây miễn dịch, hình thành nhiều dòng tế bào u lai sản xuất ra kháng thể đặc hiệu. Các dòng tế bào này được lựa chọn và nhân giống trong môi trường nuôi cấy tế bào hoặc dịch báng bụng. KT đơn dòng được sản xuất ra từ 1 dòng tế bào của tế bào u lai nên kháng thể rất tinh khiết chỉ phản ứng với một kháng nguyên.

HỆ THỐNG NHẬN BIẾT

Vì phức hợp kháng nguyên - kháng thể không thể thấy được dưới kính hiển vi quang học nên cần một hệ thống để hiển thị vị trí có phản ứng kháng nguyên - kháng thể. Hệ thống này gồm 2 phần: (1) kháng thể thứ hai hay kháng thể bắt cầu và (2) hệ thống phóng đại dấu hiệu nhận biết.
Kháng thể thứ hai là cầu nối kháng thể thứ nhất với hệ thống phóng đại dấu hiệu nhận biết, đó là kháng thể chống globulin miễn dịch (Ig) của kháng thể thứ nhất. Thí dụ nếu kháng thể thứ nhất là IgG của chuột, thì kháng thể thứ hai là của thỏ hay dê chống IgG chuột). Trong phức hợp Avidin-Biotin và phương pháp Streptavidin kháng thể thứ hai được gắn biotin.
Hệ thống phóng đại dấu hiệu nhận biết gồm một men (enzyme), chất nền (subtrate) và chất màu (chromogen). Men phải được gắn với kháng thể thứ hai bằng một phản ứng kháng nguyên-kháng thể hay bằng cầu nối hóa học (avidin và biotin). Cần thêm vào một chất nền thích hợp với men và cuối cùng là chất màu được gắn lên để có thể thấy được sản phẩm, cho phép xác định sự hiện diện của kháng nguyên trong mô dưới kính hiển vi quang học.

CÁC KỸ THUẬT MIỄN DỊCH MEN

Miễn dịch men trực tiếp
Kháng nguyên (mô) kết hợp với kháng thể thứ nhất có gắn men
Phương pháp này đơn giản, nhanh, có tính đặc hiệu nhưng ít nhạy cảm do thiếu hệ thống phóng đại dấu hiệu nhận biết.

Miễn dịch men gián tiếp
Kháng nguyên (mô) + kháng thể thứ nhất + kháng thể thứ hai có gắn men đồng thời kháng Ig loài của kháng thể thứ nhất.

Kỹ thuật men - chống men
Kháng nguyên (mô) + kháng thể thứ nhất + kháng thể thứ hai + kháng thể thứ ba chống men + men
Phương pháp này có tính đặc hiệu và nhạy cảm hơn 2 phương pháp trên

Cầu nối Biotin - Streptavidin
Kháng nguyên (mô) + kháng thể thứ nhất + kháng thể thứ hai gắn biotin + Streptavidin + men (peroxydase)
Phương pháp này được sử dụng nhiều vì có tính nhạy cảm cao và đặc hiệu cao. Avidine có ái lực mạnh với biotin và men peroxydase, làm cầu nối cho men gắn vào biotin (trên kháng thể thứ hai). Một phân tử avidin có 4 vị trí gắn men peroxydase nên hệ thống nhận biết được phóng đại lên gấp 4 lần.

ỨNG DỤNG CỦA HÓA MÔ MIỄN DỊCH TRONG CHẨN ÐOÁN GIẢI PHẪU BỆNH

Xác định nguồn gốc của những u không biệt hóa
Các loại ung thư khác nhau có tiên lượng và cách điều trị khác nhau, do đó việc xác định nguồn gốc tế bào ung thư giúp phân loại chính xác các ung thư giúp ích rất nhiều cho việc điều trị bệnh này. Chẩn đoán giải phẫu bệnh cơ bản dựa vào hình thái tế bào và cấu trúc mô học của tế bào. Các u có nguồn gốc thượng mô thường xếp thành mảng, các u có nguồn gốc trung mô thường xếp rời rạc...
Nhưng có nhiều loại u có nguồn gốc khác nhau nhưng có biểu hiện hình thái giống nhau như u tế bào sáng có thể có nguồn gốc trung mô (sarcom tế bào sáng), thượng mô (carcinom tế bào sáng) hoặc mô limphô (limphôm tế bào sáng)... Do đó các nhà bệnh học cần phải nhờ đến một công cụ khác ngoài hình thái học để xác định nguồn gốc tế bào u. Ðó là dùng các kỹ thuật hóa mô miễn dịch để xác định kháng nguyên đặc hiệu hiện diện trên tế bào u. Các kháng nguyên được dùng để phân tích các u chưa rõ nguồn gốc được trình bày trong sơ đồ 1 và trong các bảng 1 - 5.

Từ khóa: quan sát
Tin mới
Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 35


Hôm nayHôm nay : 725

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 29325

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1562229

Công ty Cổ phần Biotech Việt Nam
Địa chỉ: 28/119, Hồ Đắc Di, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội
Tel: (84-4) 8582 2374 / (84-4) 3533 5097 Fax: (84-4) 3533 5097
Design by hoangbinh@yahoo.com